20/6/17

BẢN NỘI QUY MỚI


BẢN NỘI QUY MỚI
đã được Đức Cha Đặc Trách cho phép thử nghiệm 3 năm.
                                                                     
Năm 1910, qua sắc lệnh Quam Singulari, Đức thánh giáo hoàng Pio X cho phép và cổ võ việc cho các thiếu nhi được rước lễ sớm.
Năm 1917, đứng trước tình trạng tục hóa trong các trường học của nước Pháp, cha Bessière, dòng Tên, đã thành lập Nghĩa Binh Thánh Thể để bảo vệ tâm hồn các thiếu nhi.
Nhìn thấy kết quả giáo dục tại Pháp của Nghĩa Binh Thánh Thể, 2 linh mục thuộc tu hội Xuân Bích đã thành lập đoàn Nghĩa Binh Thánh Thể đầu tiên tại Hà Nội năm 1929 và thành lập tại Huế và Sàigòn năm 1931.


CHƯƠNG I: BẢN CHẤT - TÔN CHỈ

Điều 1: Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam trước là Nghĩa Binh Thánh Thể đã được giáo quyền phê chuẩn bằng văn thư số 16/74/GMĐT/TĐGD, ngày 22.8.1974 và được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam năm 2016 trong cuộc họp Đại hội lần thứ XIII tái xác nhận, đồng thời trao cho Đức cha đặc trách ủy ban Mục vụ Giới trẻ và Thiếu nhi chịu trách nhiệm chăm sóc.
Điều 2:  Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam là đoàn thể Tông đồ giáo dân nhằm mục đích:
+ Đào luyện Thanh Thiếu nhi về 2 phương diện tự nhiên và siêu nhiên để các em trở nên con người kiện toàn và những Kitô hữu hoàn hảo.
+ Đoàn ngũ hóa và hướng dẫn Thiếu Nhi thông truyền Tin Mừng và góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Tin Mừng.
Điều 3: Chúa Giêsu Thánh Thể “Trung tâm và nguồn động lực cho đời sống đức tin” là nguồn sống và là lý tưởng của Thiếu Nhi Thánh Thể, Người luôn hiện diện và hoạt động trong đời sống chúng ta.
Điều 4: Lời Chúa trong Thánh Kinh là nền tảng và là chất liệu đặc biệt được dùng để giáo dục, thánh hoá và hướng dẫn đời sống người trẻ cũng như trong các hoạt động tông đồ, xã hội.
Điều 5: Tôn chỉ của Thiếu Nhi Thánh Thể là sống Lời Chúa và kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể trong sự cầu nguyện, rước lễ, hy sinh và làm việc tông đồ, nhất là làm tông đồ cho giới trẻ như Công Đồng Vaticanô II trong sắc lệnh Tông đồ Giáo dân số 12 dạy: “Người trẻ phải làm tông đồ trước tiên và trực tiếp cho giới trẻ”
Điều 6: Thiếu Nhi Thánh Thể hướng dẫn các em sống tình con thảo, yêu mến và tôn sùng Đức Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế và các thánh, cách riêng các thánh tử đạo Việt Nam, theo gương các ngài đón nhận Chúa và đem Chúa vào đời như các ngài đã thực  hiện cách tuyệt hảo.
Điều 7: Thiếu Nhi Thánh Thể đào tạo cho người trẻ tinh thần Giáo hội bằng cách yêu mến Chúa Giêsu là Đầu Nhiệm Thể và cũng là Thủ lãnh của Phong trào qua việc vâng phục Đức thánh cha, vị đại diện Chúa Kitô và thực hiện ý cầu nguyện hàng tháng của ngài.
Điều 8: Lãnh trách nhiệm Kitô hoá giới trẻ, Thiếu nhi Thánh Thể tạo cho các em một bầu khí mới, lành mạnh, phấn khởi, thích nghi, cởi mở, để hướng dẫn các em sống đạo ý thức, tích cực, tự nguyện, đồng thời giúp các em có tinh thần dấn thân để hãnh diện giới thiệu Chúa với các bạn.
Điều 9: Để chu toàn nhiệm vụ giáo dục và thánh hoá người trẻ, Thiếu Nhi Thánh Thể cần sự cộng tác của quí cha xứ, quí phụ huynh, các đoàn thể, học đường, và những tổ chức liên hệ với môi trường sống của Thiếu nhi.
                                             
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP THIẾU NHI THÁNH THỂ

Điều 10: Để giúp giáo dục toàn diện cho các em, Thiếu Nhi Thánh Thể sử dụng phương pháp tự nhiên và siêu nhiên thích hợp, là dùng Lời Chúa và Bí tích Thánh Thể để Kitô hóa và thánh hóa tuổi trẻ, đồng thời kết hợp với phương pháp giáo dục mới theo từng lứa tuổi, giúp các em vui mà học, học mà vui, để đào tạo tuổi trẻ thành những con người có nhân cách và tài giỏi, cụ thể là trong những hoạt động sau:

Điều 11: NGÀY THÁNH THỂ:

Các em sống mầu nhiệm tận hiến của Chúa Giêsu Thánh Thể trong mọi chi tiết của đời sống, để mỗi ngày sống trở thành “Ngày Thánh Thể”.
Những việc lành truyền thống của Thiếu Nhi Thánh Thể là Dâng ngày, dâng lễ, rước lễ, lần chuỗi, viếng Chúa, hy sinh, làm việc bác ái tông đồ giúp các em thực hiện ngày Thánh Thể.

Điều 12: BÓ HOA THIÊNG:

Thực hiện ghi sổ Hoa thiêng là lối giáo dục đặc biệt của Thiếu Nhi Thánh Thể, là cách kiểm điểm đời sống thiêng liêng mà các em phải thực hiện hàng ngày cách chân thành và bền tâm.

Điều 13: KHUNG CẢNH THÁNH KINH VÀ BẦU KHÍ THÁNH KINH:

Để Thiếu nhi được nuôi dưỡng bởi bầu khí đạo đức, thánh thiêng, cần đưa các em vào môi trường tức Khung cảnh và Bầu khí Thánh Kinh, Vì thế Thiếu Nhi Thánh Thể ưu tiên sử dụng các trò chơi, bài hát, băng reo,… có nội dung Thánh Kinh và Giáo lý nhằm giúp Thiếu nhi thấm nhuần Lời Chúa và thực hành giáo lý.

Điều 14: HỌP ĐOÀN SINH:

Hội họp là sinh hoạt quan trọng của Thiếu Nhi Thánh Thể. Chính qua hội họp mà các em được đào luyện. Có hai hình thức quan trọng là Họp Đội và họp Chi đoàn. Nội dung hội họp, học hỏi sẽ căn cứ theo chương trình Thăng tiến của các ngành, các cấp.

Điều 15: HỘI HỌP:

+ Ban Huynh trưởng Xứ đoàn họp mỗi tháng một lần để kiểm điểm tình hình sinh hoạt và đặt chương trình cho tháng sắp đến.
+ Ban điều hành Hiệp đoàn họp 3 tháng một lần để kiểm điểm và lên kế hoạch cho các sinh hoạt chung của Hiệp đoàn, đồng thời nhận và tổng kết báo cáo sinh hoạt của các Xứ đoàn.
+ Ban điều hành Liên đoàn họp mỗi năm một hay nhiều lần do cha Tuyên úy Liên đoàn triệu tập để thảo luận những vấn đề nội bộ thuộc Liên đoàn.
+ Ban điều hành Giáo tỉnh họp mỗi năm một vài lần để lên chương trình sinh hoạt chung cho các Liên đoàn trong miền.
+ Ban điều hành Quốc gia mỗi năm họp ít là 1 lần do cha Tổng tuyên úy triệu tập để quyết định về đường lối và hoạt động chung.
Điều 16: VÀO SA MẠC
 “Thiên Chúa đã dẫn dân Do Thái vào sa mạc 40 năm để huấn luyện họ”. Thiếu Nhi Thánh Thể cũng coi “Vào sa mạc” là một phương thế huấn luyện đặc biệt cho các Huynh trưởng  và cho thiếu nhi trong những việc quan trọng.
Điều 17: CHƯƠNG TRÌNH THỰC HÀNH:
Để đưa lý tưởng vào đời sống thực tế, Thiếu Nhi Thánh Thể thường tổ chức:
+ Sinh hoạt thiêng liêng thích ứng với mỗi mùa trong năm Phụng vụ để giúp các em sống kết hiệp sâu xa với mầu nhiệm được cử hành.
+ Công việc tông đồ và bác ái xã hội xứng hợp cho người trẻ.
CHƯƠNG III: TỔ CHỨC THIẾU NHI THÁNH THỂ
Điều 18: Thiếu Nhi Thánh Thể là đoàn thể Tông đồ giáo dân, được thành lập để giúp các thiếu nhi nên người, nên tông đồ và nên thánh, khởi sự từ các gia đình, các giáo xứ.
Điều 19: Để đạt mục đích nêu trên một cách tốt đẹp, Thiếu Nhi Thánh Thể cần phải thống nhất trên bình diện quốc gia và quốc tế.
Điều 20: Thiếu Nhi Thánh Thể được chia làm 5 ngành theo lứa tuổi:
a) Ngành Chiên con 5-6 tuổi để tập cho trẻ làm quen với nhà thờ, với sinh hoạt cộng đoàn và các việc đạo đức.
b) Ngành Ấu nhi Thánh Thể cho các em từ 7 đến 9 tuổi.
c) Ngành Thiếu nhi Thánh Thể cho các em từ 10-12 tuổi.
d) Ngành Nghĩa sĩ Thánh Thể cho các em từ  13-15 tuổi.
đ) Ngành Hiệp sĩ Thánh Thể cho các em 16-18 tuổi.
Điều 21: TNTT được tổ chức theo hệ thống hàng đội với đơn vị căn bản là Đội gồm:
- Từ 7 đến 10 em cho các ngành Chiên con, Ấu nhi và Thiếu nhi.
- Từ 5 đến 8 em cho các ngành Nghĩa sĩ và Hiệp sĩ. Mỗi đội được dẫn dắt bởi 1 đội trưởng và 1 đội phó.
Điều 22: Từ 3 đến 5 đội cùng ngành và cùng phái hợp thành Chi đoàn. Do đó mỗi xứ có:
- Một hay nhiều Chi đoàn Chiên con.
- Một hay nhiều Chi đoàn Ấu nhi nam
- Một hay nhiều Chi đoàn Ấu nhi nữ
- Một hay nhiều Chi đoàn Thiếu nhi nam
- Một hay nhiều Chi đoàn Thiếu nhi nữ
- Một hay nhiều Chi đoàn Nghĩa sĩ nam
- Một hay nhiều Chi đoàn Nghĩa sĩ nữ
- Một hay nhiều Chi đoàn Hiệp sĩ nam
- Một hay nhiều Chi đoàn Hiệp sĩ nữ
Mỗi Chi đoàn do một Chi đoàn trưởng chịu trách nhiệm điều khiển và huấn luyện đơn vị mình theo đúng Nội quy, Nghi thức, Thủ bản, các mệnh lệnh cấp trên và các tài liệu chính thức của Thiếu Nhi Thánh Thể. Các Huynh trưởng phụ tá có nhiệm vụ trợ giúp Chi đoàn trưởng và thay thế khi Chi đoàn trưởng vắng mặt.
Điều 23: Huynh trưởng giữ chức vụ Chi đoàn trưởng phải:
  + 18 tuổi cho ngành Chiên con, Ấu nhi và Thiếu nhi; 20 tuổi cho ngành Nghĩa sĩ và Hiệp sĩ.
  + Đã nhận được chứng chỉ khả năng cấp I trở lên,
  + Đã tập sự ít nhất 6 tháng.
  + Được Tuyên úy Xứ đoàn chứng nhận đủ tư cách, đạo đức xứng hợp và bổ nhiệm.
Điều 24: Những Chi đoàn nam và nữ trong cùng một ngành hợp thành Phân đoàn. Do đó có:
- Phân đoàn Chiên con   (Ngành Chiên con)
- Phân đoàn Ấu nhi        (ngành Ấu nhi)
- Phân đoàn Thiếu nhi   (ngành Thiếu nhi)
- Phân đoàn Nghĩa sĩ     (ngành Nghĩa sĩ)
- Phân đoàn Hiệp sĩ       (ngành Hiệp sĩ)
     Mỗi Phân đoàn có Phân đoàn trưởng và Phân đoàn phó điều khiển công việc của Phân đoàn.
Điều 25: Các Phân đoàn trưởng ngành Chiên con, Ấu nhi, Thiếu nhi, Nghĩa sĩ và Hiệp sĩ có nhiệu vụ: Chịu trách nhiệm điều hành và huấn luyện các Chi đoàn trong Phân đoàn.
     Các Phân đoàn phó có nhiệm vụ trợ giúp và thay thế Phân đoàn trưởng khi cần.
Điều 26: Các Phân đoàn trong giáo xứ, giáo họ hợp thành Xứ đoàn, có Ban điều hành đoàn cộng tác với cha Tuyên úy điều khiển. Thành phần Ban này gồm:
- Xứ đoàn trưởng.
- Một hay hai Xứ đoàn phó
- Một Thư ký                         
- Một Thủ quỹ
Do Hội đồng Huynh trưởng Xứ đoàn bầu lên và cha Tuyên úy chấp thuận. Nhiệm kỳ của Ban điều hành này là 2 năm và được tái cử.
Điều 27: Các Phân đoàn trưởng, Xứ đoàn trưởng:
  + 20 tuổi cho ngành Chiên con, Ấu nhi và Thiếu nhi, 22 tuổi cho ngành Nghĩa sĩ, Hiệp sĩ và Xứ đoàn trưởng.
  + Có chứng chỉ khả năng cấp II trở lên,
  + Đã phục vụ trong Xứ đoàn ít nhất 1 năm với tư cách Huynh trưởng.
  + Được cha Tuyên úy Xứ đoàn chứng nhận có tư cách, đạo đức và khả năng xứng hợp.
  + Được cha Tuyên úy Liên đoàn bổ nhiệm nếu là Xứ đoàn trưởng.
Điều 28: Ban quản trị Xứ đoàn trực tiếp cộng tác với cha Tuyên úy về tinh thần, tổ chức và sinh hoạt của Xứ đoàn. Trách nhiệm được xác định như sau:
- Chịu trách nhiệm về hành chánh trong Xứ đoàn đối với cấp trên.
- Phối hợp hoạt động với các ngành trong Xứ đoàn.
- Đại diện Xứ đoàn đối ngoại khi cần.
- Đào tạo và huấn luyện Tông đồ đội trưởng và các Huynh trưởng trong Xứ đoàn.
Điều 29: Nhiều Xứ đoàn trong một Hạt hay một vùng hợp thành Hiệp đoàn dưới sự dẫn dắt của cha Tuyên úy Hiệp đoàn và cộng tác với ngài có Ban điều hành Hiệp đoàn gồm:
- Một Hiệp đoàn trưởng.
- Một hoặc hai Hiệp đoàn phó
- Một Thư ký, Một Thủ quỹ.
Hiệp đoàn trưởng và Hiệp đoàn phó do Ban điều hành các Xứ đoàn bầu lên.
Thư ký và Thủ quỹ do cha Tuyên úy Hiệp đoàn, Hiệp đoàn trưởng và hai Hiệp đoàn phó đề cử. Nhiệm kỳ Ban quản trị là 3 năm và được tái cử.
Điều 30: Cấp Hiệp đoàn:
  + Đủ 21 tuổi
  + Có chứng chỉ khả năng cấp III
  + Được cha Tuyên úy Hiệp đoàn chấp thuận và đề nghị
  + Được cha Tuyên úy Liên đoàn bổ nhiệm.
Điều 31: Với sự cộng tác của Ban điều hành Hiệp đoàn, cha Tuyên úy Hiệp đoàn phối hợp hoạt động các Xứ đoàn trực thuộc, tổ chức các khoá huấn luyện căn bản cho Huynh trưởng cấp I, các cuộc họp bạn liên xứ, thăm viếng và đôn đốc giúp các Xứ đoàn thăng tiến.
Điều 32: Các Hiệp đoàn trong một Giáo phận hợp thành Liên đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Giáo phận. Ban điều hành Liên đoàn gồm có:
- Trưởng ban: cha Tuyên úy Liên đoàn (do Đức giám mục Giáo phận bổ nhiệm)
- Thành viên:
  + Các cha Tuyên úy Hiệp đoàn
  + Liên đoàn trưởng
  + 1 Liên đoàn phó đặc trách quản trị
  + 1 Liên đoàn phó đặc trách huấn luyện
  + 1 Thư ký, 1 Thủ quỹ, các Ủy viên.
  + Các Hiệp đoàn trưởng.
- Liên đoàn trưởng và 2 phó do các Hiệp đoàn trưởng bầu.
- Thư ký và Thủ quỹ do cha Tuyên úy, Liên đoàn trưởng và hai phó đề cử.
- Các ủy viên do hai Liên đoàn phó đề cử và Ban điều hành Liên đoàn chấp thuận.
Nhiệm kỳ của các Huynh trưởng trong Ban điều hành Liên đoàn là 3 năm và  được tái cử.
Điều 33: Để được bầu vào Ban điều hành Liên đoàn phải hội đủ những điều kiện:
+ Đã là thành phần trong Ban điều hành Xứ đoàn.
+ Có chứng chỉ khả năng Huynh trưởng cấp III.
+ Được một cha Tuyên úy Hiệp đoàn đề cử.
+ Được cha Tuyên úy Giáo tỉnh chuẩn nhận.
Điều 34: Với sự cộng tác của các Huynh trưởng trong Ban điều hành Liên đoàn, cha Tuyên úy Liên đoàn chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Liên đoàn trong Giáo phận. Đặc biệt lo đào tạo Huynh trưởng cấp I và cấp II. Đồng thời thăm viếng và đôn đốc sinh hoạt của các Hiệp đoàn cho thêm hữu hiệu.
Điều 35: Các Liên đoàn trong một Giáo tỉnh hợp thành Thiếu Nhi Thánh Thể Giáo tỉnh. Ban điều hành Giáo tỉnh gồm:
- Trưởng ban: cha Tuyên úy Giáo tỉnh (do các Tuyên úy Liên đoàn trong Giáo  tỉnh đề cử)
- Thành viên:
  + Các cha Tuyên úy Liên đoàn
  + Trưởng Giáo tỉnh
  + Phó giáo tỉnh đặc trách quản trị
  + Phó giáo tỉnh đặc trách nghiên huấn
  + 1 thư ký, 1 thủ quĩ
  + Huynh trưởng Trưởng các Ban điều hành Liên đoàn.
Huynh trưởng Ban điều hành Giáo tỉnh được chọn từ Huynh trưởng Ban điều hành của các Liên đoàn trong Giáo tỉnh.
Điều 36: Ban điều hành Giáo tỉnh có nhiệm vụ:
- Hướng dẫn các Liên đoàn theo sát nội qui, đường lối sinh hoạt Thiếu Nhi Thánh Thể.
- Tổ chức các sinh hoạt chung liên kết các Liên đoàn trong Giáo Tỉnh.
Điều 37: Liên đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể các Giáo phận hợp thành Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam được đặt dưới sự hướng dẫn của Ban điều hành Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam, gồm:
- Trưởng ban: cha Tổng tuyên úy quốc gia (do Đức giám mục đặc trách bổ nhiệm).
- Thành viên:
  + Các Tuyên úy Giáo tỉnh và Liên đoàn
  + Hội đồng Huynh trưởng quốc gia.
Ban điều hành Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam Có nhiệm vụ quyết định về Nội quy, ấn định đường lối, giám sát việc thực thi những quyết định của Phong trào.
Điều 38: Hội đồng Huynh trưởng quốc gia gồm:
  + Trưởng ban.
  + 1 Phó ban đặc trách quản trị.
  + 1 Phó ban đặc trách huấn luyện.
  + 1 Tổng thư ký
  + 1 Tổng thủ quỹ
- Trưởng và phó ban do Ban điều hành các Giáo tỉnh bầu lên.
- Thư ký và Thủ quỹ sẽ do cha Tổng tuyên úy, Trưởng và hai phó đề cử.
- Ngoài ra còn có các ủy viên do hai phó đề cử và được các cha Tuyên úy Liên đoàn ưng thuận.
  Các ủy viên gồm có:
  + Ủy viên đặc trách ngành Chiên con
  + Ủy viên đặc trách ngành Ấu nhi.
  + Ủy viên đặc trách ngành Thiếu nhi.
  + Ủy viên đặc trách ngành Nghĩa sĩ.
  + Ủy viên đặc trách ngành Hiệp sĩ.
        (1) Ủy viên truyền thông và báo chí
(2) Ủy viên xã hội
(3) Ủy viên liên lạc cựu Huynh trưởng
        (4) Ủy viên kỹ thuật
        (5) Ủy viên bảo trợ ơn thiên triệu
(6) Ủy viên kinh tài.
Điều 39: Được bầu vào Hội đồng Huynh trưởng quốc gia, các Huynh trưởng có điều kiện sau:
  + Đã là thành phần trong Ban quản trị Liên đoàn trở lên.
  + Có chứng chỉ khả năng cấp III.
  + Được một cha Tuyên úy Liên đoàn đề cử.
  + Khi đã được bầu, cần phải có nghi thức tuyên hứa.
Điều 40: Hội đồng Huynh trưởng quốc gia thi hành các quyết nghị của Ban điều hành Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam, về các phương diện chuyên môn, quản trị cũng như hành chánh và tài chánh. Nhiệm kỳ của Hội đồng Huynh trưởng quốc gia là 3 năm và được tái cử.
Điều 41: Ban Huấn luyện gồm:
  + Linh mục trưởng ban (Do Tuyên úy các Liên đoàn bầu)
  + Linh mục đặc trách huấn luyện Giáo tỉnh
  + 5 linh mục đặc trách 5 ngành.
  + Phó Hội đồng đặc trách huấn luyện.
  + Các Huấn luyện viên chính thức được mời
Điều 42: Ban huấn luyện có bổn phận nghiên cứu, chuẩn bị các tài liệu học tập và huấn  luyện. Trực tiếp huấn luyện cấp III trên toàn quốc, hỗ trợ và kiểm soát các khoá huấn luyện cấp II. Ban Huấn luyện có thể ủy quyền cho Liên đoàn mở các khoá cấp III, nhưng kết quả đều do trưởng Ban huấn luyện chứng thực và công bố.
Điều 43: Ban huấn luyện Giáo tỉnh được thành lập để cộng tác với Ban huấn luyện quốc gia trong việc hỗ trợ các Ban huấn luyện Liên đoàn mở khóa cấp III trong Giáo Tỉnh. Ban huấn luyện Giáo tỉnh gồm:
  + Cha trưởng Giáo tỉnh và các Tuyên úy Liên đoàn trong Giáo tỉnh.
  + Huynh trưởng đặc trách huấn luyện của các Liên đoàn.
  + Các Huấn luyện viên chính thức được mời
Điều 44: Ban huấn luyện Liên đoàn gồm có:
  + Cha tuyên úy Liên đoàn là trưởng ban
  + Cha tuyên úy các Hiệp đoàn
  + Phó đặc trách huan luyện của Liên đoàn và các ủy viên liên hệ
  + Các huấn luyện viên chính thức được mời.
Điều 45: Ban huấn luyện Liên đoàn có bổn phận huấn luyện Huynh trưởng cấp I và cấp II trong Liên đoàn. Tuyên úy Liên đoàn sẽ chứng thực các khoá cấp I và II trong  Liên đoàn mình. Các khoá Huấn luyện cấp I có thể do Hiệp đoàn tổ chức với sự đồng ý của Tuyên úy Liên đoàn.
Điều 46: Trong sắc lệnh về Tông đồ giáo dân số 28, Công đồng Vaticanô II dạy: “Việc tông đồ chỉ đạt tới kết quả mỹ mãn nhờ việc huấn luyện đầy đủ và chuyên biệt” Do đó Thiếu Nhi Thánh Thể yêu cầu Huynh trưởng tham dự các khóa Huấn luyện:
  + Giáo lý viên cấp I cùng với sa mạc Huynh trưởng cấp I (Vươn lên).
  + Giáo lý viên cấp II cùng với sa mạc Huynh trưởng cấp II (Lên đường).
  + Giáo lý viên cấp III cùng với sa mạc Huynh trưởng cấp III (Dấn thân).
  + Đặc cấp (Sinai) cho các Huynh trưởng-Giáo lý viên thâm niên có nhiều thành tích   xứng đáng.
Điều 47: Chương trình huấn luyện và điều kiện tham dự các khoá đó phải được thực hiện đúng đường lối và chất liệu theo quy định trong Quy chế huấn luyện được Ban điều hành quốc gia chấp thuận.
Điều 48: Để giúp thiếu nhi thăng tiến liên tục và hữu hiệu, Thiếu Nhi Thánh Thể sẽ hướng dẫn nội dung các cấp cho mỗi ngành. Bài học thuyết và thực hành của mỗi cấp được ghi trong cuốn “Chương trình thăng tiến Thiếu nhi Thánh Thể” gồm: Giáo lý, Thánh Kinh (theo chương trình giáo lý Địa phận), phong trào, sinh hoạt và chuyên môn.
Điều 49: Thiếu nhi các ngành đều có 3 cấp liên tiếp: cấp I, cấp II và cấp III. Mỗi năm được trắc nghiệm khả năng và tiến qua một cấp, đoàn sinh được mang cấp hiệu mới trong một nghi thức thăng tiến do các trưởng liên hệ quyết định.
Điều 50: Điều hành Thiếu Nhi Thánh Thể là quyền của các linh mục Tuyên úy do hàng Giáo phẩm trao ban, quyền này được ủy thác cho các Huynh trưởng tùy khả năng và vai trò của họ (theo nguyên tắc Tông đồ giáo dân)
Huynh trưởng khi được bầu cử và bổ nhiệm sẽ có quyền và trách nhiệm trong việc tổ chức và điều khiển của Thiếu Nhi Thánh Thể. Tuyên úy thường chỉ can thiệp trong việc huấn luyện đạo đức, nhưng khi cần các ngài sẽ can thiệp trong việc tổ chức và điều khiển.
Điều 51: Trợ úy là chủng sinh hay tu sĩ được bề trên cho phép tham gia Thiếu Nhi Thánh  Thể:
- Trợ úy cộng tác với cha Tuyên úy trong nhiệm vụ của ngài, nhất là trong việc huấn luyện tinh thần đạo đức cho các đoàn sinh.
- Trợ úy luôn cố gắng tạo cơ hội và uy tín cho các Huynh trưởng làm việc và luôn tỏ ra tín nhiệm họ.
Điều 52: Khi các Trợ úy muốn tham gia điều hành, họ phải qua sa mạc huấn luyện trợ úy và được cấp chứng chỉ. Bằng không các trợ úy chỉ giữ vai trò cố vấn hay huấn luyện đạo đức.
Các linh mục Tuyên úy được mời gọi tham dự các sa mạc Tuyên úy để nắm vững tinh thần Thiếu Nhi Thánh Thể hầu có thể mưu ích tối đa cho Thiếu nhi.
Điều 53: Trợ tá là những ông trương, bà quản, các cựu Huynh trưởng hay phụ huynh yêu  mến trẻ, sẵn sàng hỗ trợ linh mục Tuyên úy và xứ đoàn trong công việc giáo dục Thiếu nhi. Các trợ
tá cũng cần nắm vững tinh thần Thiếu Nhi Thánh Thể để có thể phục vụ tốt hơn.
Điều 54: Thiếu Nhi Thánh Thể khuyến khích mỗi Liên đoàn và mỗi Giáo tỉnh nên có đội ngũ Huấn luyện viên nồng cốt phục vụ cho việc huấn luyện.

CHƯƠNG IV: HÀNH CHÁNH VÀ BÁO CHÍ


Điều 55: Thống nhất hành chánh là yếu tố quan trọng giúp thống nhất trong Thiếu Nhi Thánh Thể. Vì thế, các giấy tờ hành chánh sẽ được in sẵn làm mẫu. Các giấy tờ hành chánh phải có sự thị nhận của các Tuyên úy liên hệ mới có giá trị.

Điều 56: Mỗi 3 tháng, Ban điều hành Xứ đoàn sẽ làm phúc trình về tình trạng Xứ đoàn thành 3 bản: 1 bản giữ lại Xứ đoàn, và 2 bản gửi về Hiệp đoàn.
Điều 57: Hệ thống hành chánh tại Hiệp đoàn như sau:
  + Thực hiện và lưu trữ những giấy tờ liên hệ
  + Hiệp đoàn mỗi 4 tháng làm bản đúc kết tình trạng Hiệp đoàn và gởi về Liên đoàn cùng với một bản phúc trình của các Xứ đoàn trực thuộc.
Điều 58: Hành chánh Liên đoàn gồm những điểm sau:
  + Thực hiện và lưu trữ sổ sách giấy tờ liên hệ
  + Làm các văn thư để hợp thức hóa việc thành lập các Xứ đoàn và Hiệp đoàn.
  + Cấp chứng chỉ cho Huynh trưởng cấp I và II
  + Cấp bổ nhiệm thư chính thức cho các Huynh trưởng từ cấp Hiệp đoàn trở xuống.
Điều 59: Hệ thống hành chánh tại cấp Giáo tỉnh:
  + Thực hiện và lưu trữ những giấy tờ liên hệ
  + Lưu trữ tài liệu liên quan đến việc huấn luyện Huynh trưởng cấp III
Điều 60: Hành chánh Thiếu Nhi Thánh Thể gồm:
  + Thực hiện, lưu trữ sổ sách, giấy tờ liên hệ đến Thiếu Nhi Thánh Thể.
  + Làm văn thư hợp thức hoá việc thành lập Liên đoàn tại các Giáo phận.
  + Cấp chứng chỉ cho Huynh trưởng cấp III và đặc cấp.
  + Làm văn thư bổ nhiệm chính thức các Huynh trưởng thuộc Ban chấp hành Giáo tỉnh và các Liên đoàn.
  + Soạn thảo và phát hành các mẫu giấy tờ.
Điều 61: Thiếu Nhi Thánh Thể có tập San, trang mạng,… để hướng dẫn và thông tri về hoạt động của mình. Những phương tiện truyền thông này là cơ hội liên lạc với nhau và phổ biến tài
liệu chính thức của Thiếu Nhi Thánh Thể.              

CHƯƠNG V: ĐỒNG PHỤC - HUY HIỆU KHĂN QUÀNG - CỜ ĐOÀN

Điều 62: ĐỒNG PHỤC:
  + Nam: * Áo: sơ mi trắng ngắn hay dài tay, có cầu vai, 2 túi áo có nắp.
* Quần
  + Cho thiếu nhi: dài hay ngắn, màu xanh biển đậm.
  + Cho Huynh trưởng: dài hay ngắn, màu xanh biển đậm hay màu đen.
  + Nữ :* Y phục dài: Áo dài trắng, quần dài đen hay trắng tùy Liên đoàn lựa chọn.
            * Y phục ngắn: Áo sơ mi trắng ngắn hay dài tay, có cầu vai, 2 túi có nắp.
  + Váy hoặc quần dài màu xanh biển đậm cho Thiếu nhi.
  + Váy hoặc quần dài màu đen hay xanh biển đậm cho Huynh trưởng.
Điều 63: Khăn quàng được ấn định như sau:
  + Ngành Chiên Con: dùng khăn màu hồng, không viền, có Thánh Giá vàng sau chéo cỡ 4 phân
  + Ngành Ấu nhi: khăn màu xanh lá cây, không viền có Thánh Giá vàng sau chéo cỡ 4 phân. (Đội trưởng và đội phó: có viền vàng)
  + Ngành Thiếu nhi: khăn màu xanh dương, không viền, có Thánh Giá vàng sau chéo cỡ 5 phân. (Đội trưởng và đội phó: có viền vàng).
  + Ngành Nghĩa sĩ: khăn màu vàng nghệ, không viền, có Thánh Giá đỏ sau chéo cỡ 5 phân. (Đội trưởng và đội phó: có viền đỏ).
  + Ngành Hiệp sĩ: khăn màu nâu đất, không viền, có Thánh Giá vàng sau chéo cỡ 5 phân. (Đội trưởng và đội phó: có viền vàng).
  + Huynh trưởng: khăn màu đỏ, có viền vàng, Thánh Giá vàng sau chéo cỡ 6 phân.
  + Trợ tá: khăn màu đỏ, có viền xanh dương, Thánh Giá màu xanh dương sau chéo cỡ 6 phân.
  + Huấn luyện viên: khăn màu tím, có viền vàng (cấp I), thêm viền xanh dương (cấp II), thêm viền xanh mạ non (cấp III), Thánh Giá vàng sau chéo cỡ 6 phân.
  + Trợ úy: khăn màu đỏ, có viền trắng, Thánh Giá trắng sau chéo cỡ 6 phân.
  + Tuyên úy: khăn màu trắng, có viền vàng, Thánh Giá vàng sau chéo cỡ 6 phân
Điều 64: Chỉ một huy hiệu chung cho Thiếu Nhi Thánh Thể gồm hình chén lễ vàng trên có hình bánh tròn. Cả chén lễ và bánh nằm trên Thánh Giá đỏ đóng khung 4 cạnh. Huy hiệu này được
mang trên túi áo bên trái. Ngoài huy hiệu nói trên, còn có một băng hình chữ nhật màu đỏ, trên có chữ trắng ‘THIẾU NHI THÁNH THỂ VIỆT NAM” được gắn liền nằm ngang trên nắp túi áo trái.
Điều 65: Phân biệt các cấp trong mỗi ngành từ Chiên con, Ấu nhi cho tới Huynh trưởng như sau:
  1- Cho thiếu nhi: dùng một gạch cho cấp I, hai gạch cho cấp II, ba gạch cho cấp III. Mỗi gạch cùng màu với khăn quàng ngành, kích thước 5x30mm gắn trên túi áo bên phải.
  2- Cho Huynh trưởng:
     Một sao cho Huynh trưởng cấp I, hai sao cho Huynh trưởng cấp II, ba sao cho Huynh trưởng cấp III gắn trên nền hình chữ nhật cỡ 15x50mm.
Để phân biệt ngành chỉ huy của Huynh trưởng từ cấp II trở lên, Thiếu Nhi Thánh Thể ấn định màu nền gắn các sao như sau:
  + Hồng cho Huynh trưởng điều khiển ngành Chiên con
  + Xanh lá cây cho Huynh trưởng điều khiển ngành Ấu.
  + Xanh dương cho Huynh trưởng điều khiển ngành Thiếu.
  + Vàng nghệ cho Huynh trưởng điều khiển ngành Nghĩa sĩ.
  + Nâu đất cho Huynh trưởng điều khiển ngành Hiệp sĩ.
  + Từ Xứ đoàn trưởng trở lên: Huynh trưởng đeo tua 5 màu (hồng, xanh lá cây, xanh dương, vàng nghệ, nâu đất). Mỗi màu một tua, đeo trên cầu vai bên phải. Kích thước 16x200mm.

Điều 66: CỜ THIẾU NHI THÁNH THỂ:

  + Cờ đội: hình tam giác cân 25x40cm không tua, màu tùy theo ngành: Màu hồng cho Chiên con, màu xanh lá cây cho Ấu nhi, màu xanh dương cho Thiếu nhi, màu vàng cho Nghĩa sĩ và màu nâu đất cho Hiệp sĩ. Nam nữ như nhau. Bên mặt cờ là tên đội, bên trái cờ là Thánh Giá (cỡ 8 cm, màu vàng cho Chiên con, Ấu nhi,  Thiếu nhi và Hiệp sĩ, màu đỏ cho Nghĩa sĩ)
  + Cờ các Xứ đoàn được ấn định: Kích thước: dọc 80cm, ngang 115cm, nền cờ: Dùng màu xanh đậm phía giáp cán, nửa trắng phía dưới,
      * Huy hiệu: giữa 2 mặt cờ huy hiệu Thiếu Nhi Thánh Thể mỗi chiều 25 phân
         * Chữ: Hai mặt đều có chữ “THIẾU NHI THÁNH THỂ VIỆT NAM” xếp vòng cung phía trên. Một mặt có tên Liên đoàn dưới huy hiệu, mặt kia có tên Giáo xứ dưới huy hiệu. Chữ màu
vàng viền đỏ, tua vàng.
  + Cờ Liên đoàn: Như cờ xứ đoàn, một mặt có tên Liên đoàn dưới huy hiệu, mặt kia có tên giáo phận dưới huy hiệu, chữ vàng, viền đỏ, tua vàng.
  + Cờ Trung ương: Như cờ của Liên Đoàn nhưng 2 mặt đều có chữ ‘THIẾU NHI THÁNH THỂ” vòng cung phía trên và chữ VIỆT NAM dưới huy hiệu.
  + Cờ Danh dự: hình tam giác cân, cạnh 25cm, cao 40cm màu đỏ có tua vàng, cả hai mặt đều có chữ “danh dự” màu vàng.
CHƯƠNG VI: CHƯƠNG KẾT THÚC
Điều 67: Nội quy có thể sửa đổi từng điều do Ban điều hành quốc gia. Việc sửa đổi phải được chấp thuận với đa số tuyệt đối (2/3+1)
Điều 68: Những điều khoản của Nội quy này nếu không rõ rệt, chỉ có cha Tổng tuyên úy mới có quyền giải thích cắt nghĩa.
Điều 69: Bản nội quy này đã được Ban điều hành quốc gia thảo luận, chỉnh sửa và chung quyết trong dịp Đại hội quốc gia tại ...................... từ ngày ...................................., và được Đức cha Phêrô Nguyễn văn Viên, đặc trách Giới trẻ và Thiếu nhi thay  mặt Hội đồng giám mục Việt Nam phê duyệt.

TỔNG TUYÊN ÚY TOÀN QUỐC
(Ấn ký)
PHÊ CHUẨN CHẤP THUẬN

- Do văn thư số: ................, ngày .....................................

của Đức Giám Mục đặc trách Ban Giới Trẻ và Thiếu Nhi


ĐC. PHÊRÔ NGUYỄN VĂN VIÊN (Ấn ký)


CHIA SẺ

TÁC GIẢ:

TÁC GIẢ CHƯA CHIA SẺ...

0 Bình luận: