Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN MỪNG NĂM A. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN MỪNG NĂM A. Hiển thị tất cả bài đăng

16/9/17

Chúa Nhật 24 A Thường niên 2017

Chúa Nhật 24 A Thường niên 2017

Chúa Nhật 24 A Thường niên 2017
Hc 27, 33 – 28, 9; Rm 14, 7-9; Mt 18, 21-35
THA THỨ KHÔNG GIỚI HẠN
        Là người, có “ai nên khôn không khốn một lần”, cái khốn có khi là cái khó vượt qua, khó nhất là vượt qua trong tha thứ.  Kinh nghiệm thấy rằng “ban tặng” là điều khó, "tự hiến” thì đòi hỏi hy sinh cao hơn,  tha thứ một sự bất công mình hứng chịu thì còn đòi hỏi hy sinh cao hơn nữa ngay cả trong tâm trí.  Dù vậy mặc lòng sách Huấn ca khuyên: "Ngươi hãy tha thứ cho kẻ làm hại ngươi, thì khi ngươi cầu nguyện, ngươi sẽ được tha” (x. Bài Đọc 1. Hc 27, 33 – 28, 9). Tinh thần này của sách Huấn ca không xa lời cầu xin trong kinh Lạy Cha, “xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.
      Phụng vụ tuần trước trình bày việc sửa lỗi huynh đệ và tuần này nói về tha thứ, chắc chắn đây không phải là sự tình cờ. Thật ra sự tha thứ không được đề cao lắm trong Cựu ước. Xa xưa thời Cựu Ước luật báo thù cho phép trả thù gấp70 lần điều xúc phạm. Sau nầy vào thời muộn hơn luật Talion giảm nhẹ đi, cho phép: mắt đền mắt, rằng đền răng, mạng đền mạng, như vậy cho thấy có sự tiệm tiến ngày một ít khắt khe hơn trong luật báo thù thời Cựu ước. Nhưng phải đợi cho đến thời Tân ước với Đức Giêsu thì việc báo thù bị xóa sạch. 
     Đức Giêsu là tình yêu Thiên Chúa nhập thể, Ngài rao giảng một tôn giáo thiên về nội tâm hơn, coi trọng luật tình thương, luật nầy hoàn tất cả các khoản luật khác, và Ngài lấy Tình yêu thương đặt làm trung tâm và làm bản lề cho giáo lý Kitô giáo. Trình thuật Tin mừng Mt 18, 21-35 cho thấy tình yêu trong tha thứ thật bao la vô bờ bến và vô điều kiện, không quy chiếu điều ác đã gây ra. "Phêrô đến thưa cùng Chúa Giêsu rằng: ‘Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần. Có phải đến bảy lần không?’ Chúa Giêsu đáp: ‘Thầy không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy’”.  Tâm thức Kinh thánh coi số 7 là con số linh thánh, con số hoàn hảo, thế mà sự tha thứ Thiên Chúa đòi hỏi vượt hẳn, cao hơn gấp bội. Câu trả lời của Đức Giêsu không ít gây ngạc nhiên cho Phê-rô, vì ông nghĩ rằng mình đã đạt được biên giới của lòng tha thứ. Nhưng không phải thế, Đức Chúa còn đòi hỏi cao hơn nữa! Bảy mươi lần bảy lần (70 x 7: 490), sự vô biên trong quảng đại tha thứ được minh họa qua dụ ngôn ông vua tha cho: "một người mắc nợ mười ngàn nén bạc”, một số tiền quá sức tưởng tượng. Và cho thấy sự đê tiện của người được tha lại không tha cho bạn mình dù chỉ là món nợ nhỏ "một người bạn mắc nợ y một trăm bạc: Y tóm lấy, bóp cổ….  bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong” (Bài Tin mừng). 
     Tha thứ vô điều kiện là điều Đức Giêsu đòi hỏi các môn đệ: "Hãy hoàn thiện như Cha anh em trên trời là đấng hoàn thiện”.  Và chính Người dạy chúng ta qua Kinh lạy Cha: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.  Dĩ nhiên phải hiểu rằng, "việc tha nợ cho anh em" không phải là nguyên nhân làm cho tội chúng ta được tha, nhưng là điều kiện cần thiết phải có để tội chúng ta được Thiên Chúa thứ tha. Một tư tưởng của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô soi sáng chúng ta về tha thứ không biên giới, ngài nói: Thiên Chúa không biết mỏi mệt khi tha thứ cho tội nhân, chỉ có tội nhân mỏi mệt chạy đến van xin Thiên Chúa thứ tha.
     Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nghiệm thấy tình yêu tha thứ vĩ đại của Chúa đối với con, để con biết cảm thông và tha thứ cho anh chị em con khi họ xin con tha thứ. Xin cho con biết khiêm hạ nhận lỗi, biết can đảm sửa lỗi và biết quảng đại tha thứ. Amen.
 Lm Luy Gonzaga NGUYỄN QUANG VINH
GX. ĐỨC AN – GP. KONTUM
GPKKONTUM (16/09/2017) KONTUM

9/9/17

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 23 Năm A

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 23 Năm A

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 23 Năm A
Ed 33,7-9; Rm 13, 8-10; Mt 18,15-20

SỬA LỖI HUYNH ĐỆ
        Bài suy niệm
        Người ta thường nói “nhân vô thập toàn” (không ai hoàn hảo), vậy thì làm sao dám nói đến việc sửa lỗi anh em, bởi vì mọi người đều có mẫu số chung là khuyết điểm,bất tòan và tội lỗi. Ai dám chen chân vào việc của người khác. Nghe đến sử lỗi thì đã chói tai rồi, cho dù có thêm vào hình dung từ  huynh đệ, thì cũng không giảm đi sự khó chịu vì sự việc chính đó sẽ gây nên khó xử. Sửa lỗi anh em là chuyện không đơn giả đối với cả hai phía, người nói và người nghe. Cả hai đều khó xử! Có giả hình lắm không khi xây dựng anh em trong lúc chính mình cũng lâm vào tình trạng như thế, tội lỗi và có khi còn hơn họ nữa là đàng khác? Vả lại chính Đức Giêsu cũng đã quở trách phái Pharisiêu: “Nòi giả hình, ngươi thấy cái rác trong mắt tha nhân mà cái xà trong mắt mình lại không thấy”. 
       Tuy nhiên trong mạch văn của sứ điệp phụng vụ Chúa nhật 23A thì minh nhiên nói đến việc sửa lỗi huynh đệ. Muốn hiểu chuyện này chúng ta cần trở lại với lịch sử cứu độ: Thiên Chúa tuyển chọn một dân riêng, mà các thành viên đều có trách nhiệm trên nhau. Ơn cứu độ không riêng rẽ, lẻ tẻ, cá nhân cô đơn, nhưng ơn cứu độ mang tính cộng đoàn. Cộng đoàn này cần được bảo vệ khỏi hư hỏng bởi chia rẽ do tội lỗi gây nên, do xì-căng-đan, gương mù gương xấu. Tội lỗi và gương xấu trong mọi trường hợp đều đi ngược lại tính hợp nhất và thánh thiện của cộng đoàn.Xét vì thiện ích của cộng đoàn thì lớn hơn thiện ích của cá nhân. Từ đó hiểu được lý do tại sao có vấn đề sửa lỗi huynh đệ. Sửa lỗi huynh đệ là một cách cảnh giác cá nhân đừng tiếp tục sa vào lầm lạc gây vấp phạm cho anh em.  Tội lỗi thường thì kín đáo gây tác hại cho tội nhân hơn cho xã hội, trái lại gương xấu tác hại đến xã hội rộng lớn hơn. Cả hai đều là tội. 
        Hãy lấy một thí dụ trong Kinh Thánh. Khi Cain đã giết chết Aben, em ruột mình, Thiên Chúa đã hỏi Cain: “Em ngươi đâu? ”Cain đã trả lời: “Tôi là người canh giữ em tôi sao?” Câu trả lời cho câu hỏi này là khẳng định, nghĩa là ngươi có trách nhiệm trên em ngươi, đó là “món nợ tương thân tương ái” mà Bài Đọc 2 nói đến (x. Rm 13, 8-10). Báo cho anh em một sai lầm mắc phải chẳng khác gì thi hành chức năng người lính canh vào đêm khuya. Các tiên tri được coi là lính canh, có nhiệm vụ báo động khi có sự kiện bất trắc xảy đến: “Phần ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt người làm người canh gác cho nhà Israen. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết.” (x. Bài Đọc 1. Êd 33,7-9). 
       Đây cũng là thực thi tình liên đới bảo vệ sự toàn vẹn tính của cộng đoàn. Trong đời sống thiêng liêng, một sự báo động, một sửa lỗi huynh đệ, vì mục đích bảo vệ sự toàn vẹn cộng đoàn, có khi gây ra quan ngại, tạo căng thẳng, nhưng nếu nhìn sự kiện sâu sát thì việc sửa lỗi thường tạo nên cơ may chỉnh đốn đời sống thiêng liêng, giúp tu sửa đời sống đạo đức, đào sâu ý thức việc làm. Đó chính là hướng đi của Tin Mừng Mátthêu hôm nay (Tin Mừng Mt 18, 15-20), trích đọan nói về sinh họat trong Hội Thánh. Trước đó, Tin Mừng nói đến chuyện bỏ 99 con chiên để đi tìm con chiên lạc, nói lên tình thương bao trùm của Chủ Chăn, không muốn mất đi bất cứ con chiên nào dù nó lạc xa đàn (Mt 18,12-14). Bằng mọi cách Thiên Chúa đi tìm con chiên lạc đem về đàn. “Cũng vậy, nơi Cha các ngươi Đấng ngự trên trời, không hề có ý để mặc hư đi một người nào” (câu 14).
        Nói sự thật trong tình thương (veritas in caritate) là cả một nghệ thuật sống, bởi kinh nghiệm cho hay mọi sự thật không tốt để nói ra, có khi không nói lại được việc hơn là nói. Nói đúng việc, đúng người và đúng lúc là điều đáng cân nhắc trước khi phát biểu (x. Bài Tin mừng).
        Lạy Chúa  Giêsu, xin cho con biết nói sự thật trong lòng mến và khiêm hạ đón nhận khuyết điểm khi được nhắc bảo. Xin cho con biết cảm thông thân phận yếu đuối của anh chị em con. Amen
Linh Mục Luy Gonzaga NGUYỄN QUANG VINH
GX. ĐỨC AN –  GP. KONTUM
GPKONTUM (09/09/2017) KONTUM

1/9/17

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 21 Năm A

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 21 Năm A

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 21 Năm A
Is 22, 19-23; Rm 11, 33-36; Mt 16,13-20
CHÌA KHÓA VƯƠNG QUỐC
               Bài suy niệm:
        Phỏng theo nghi thức thiết lập tể tướng triều đình, ngôn sứ Isaia loan báo cho thành Giêrusalem và nhà Giuđa một người Tôi tớ mới đầy quyền bính, mình mặc áo thụng, lưng thắt cân đai và được trao cho chìa khóa nhà Đavít, để người Tôi tớ thi hành quyền đóng lại và mở ra theo ý mình: “Chìa khóa nhà Đavít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được nó đóng lại thì không ai mở được … Ta sẽ làm cho nó vững chắc như đinh đóng cột, nó sẽ nên như ngai vinh hiển cho nhà cha nó” (x. Bài Đọc 1. Is 22, 19-23). Vậy quyền chìa khóa nầy là gì? Ai trao cho ai ? Để làm gì ?
        Lời ngôn sứ Isaia được loan báo sáu trăm năm trước khi Đức Giêsu tham chiếu lược đồ nầy của tiên tri để khẳng định căn cước của mình là Đấng Mêsia, và đàng khác Đức Giêsu thiết lập Hội Thánh và đặt thánh Phêrô làm đầu Hội Thánh và trao cho ông quyền chìa khóa, tức quyền đóng mở, quyền quản lý và phân phát các bí tích mà Đức Giêsu đã thiết lập. Đức Giêsu làm ứng nghiệm lời tiên tri Isaia. Hội Thánh được coi là người gìn giữ kho tàng đức tin và ban phát ân sủng bi tích cho các tín hữu. Trước khi thiết lập Hội Thánh, đây là một việc làm đại sự, Đức Giêsu đã cẩn thận thăm dò dư luận và thăm dò lòng tin nơi các môn đệ. 
        Trình thuật trao quyền chìa khóa xảy ra tại thành Xêdarê Philípphê, Đức Giêsu hỏi các môn đệ: “Người ta bảo Con người là ai?” Chưa thỏa mãn lắm về câu trả lời, Đức Giêsu hỏi thêm: “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai?” Lời tuyên xưng đức tin của Phêrô làm yên lòng Đức Giêsu và sau đó Người thiết lập Hội Thánh và trao cho Phêrô quyền chìa khóa. Phêrô tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đức Giêsu trả lời: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy trao cho anh chìa khóa Nước Trời” (x. Bài Tin Mừng. Mt 16, 13-20). Lời nói tuy đơn sơ, nhưng như đinh đóng cột, kiên vững hai ngàn năm, Hội Thánh được xây dựng trên lời hứa với thánh Phêrô, đệ nhất giám mục thành Rôma, và thánh Phêrô nắm giữ quyền chìa khóa, quyền cầm buộc và tháo cởi. Lời này là căn bản pháp lý thành lập Hội Thánh (x. Mt 16,18) và thiết lập quyền bính trong Giáo Hội, được hiểu là quyền thánh hiến, quyền giảng dạy và quyền quản trị Giáo Hội.
        Hội Thánh của Đức Giêsu không cậy dựa vào sức mạnh của xác thịt và máu huyết nhân loại, nghĩa là không dựa vào phương tiện trần thế, quyền bính thế gian, tiền bạc và quân đội, nhưng dựa vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Đấng linh hoạt Hội Thánh. Dù vậy mặc lòng Hội Thánh Chúa được thế giới nhìn nhận có uy quyền bao trùm trên quốc tế, có một hệ thống tổ chức xã hội nhân sự chặt chẽ, tiêu biểu là quốc gia Vatican nằm gọn trong nước Ý, nơi đây Đức Thánh Cha và giáo triều Rôma điều hành Giáo Hội công giáo thế giới với đầy đủ quyền hành cầm buộc và tháo cởi.
        Như thế Giáo Hội là một thực tại mầu nhiệm hiện diện nơi trần thế, Giáo Hội được gọi là Thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô mà mỗi Kitô hữu đều là chi thể. Nơi Giáo Hội, có mặt chúng ta thấy được như một cơ chế xã hội trần thế, có tổ chức nhân sự, có phẩm trật ban bệ và luật lệ tôn giáo; mặt khác chúng ta phải dùng đức tin để nhìn nhận Giáo Hội là phương tiện của Đức Giêsu dùng để chuyển tải ơn cứu độ đến cho mọi người, Giáo Hội được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và linh hoạt, mà nếu không có Chúa Thánh Thần thì Giáo Hội chỉ là xác chết vô hồn. Mặt tâm linh siêu nhiên này mới là điều chính yếu và quan trọng của Giáo Hội, chứ không phải là cơ cấu tổ chức quy mô trần thế bên ngoài. Giáo Hội do Đức Giêsu thiết lập và mãi mãi Đức Giêsu là đầu của Giáo Hội, là thủ lãnh dẫn đưa đàn chiên đến với Chúa Cha.
        Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết yêu mến, bảo vệ, tùng phục và xây dựng Giáo Hội vì Giáo Hội là Mẹ sinh ra Kitô hữu, nuôi dưỡng, dạy dỗ, và dẫn đưa về với Chúa Cha. Amen
Lm. Luy Gonzaga NGUYỄN QUANG VINH
GX. ĐỨC AN –  GP. KONTUM
GPKONTUM (26/08/2017) KONTUM


18/8/17

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 20 Năm A

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 20 Năm A

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 20 Năm A
Is 56, 1.6-7; Rm 11, 13-15.29-32; Mt 15, 21-28   
ĐỨC TIN LÀM CHO SỐNG
         Bài suy niệm:
        Trong chuyến tông du Hoa Kỳ, ngày 18. 4. 2008, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã đến tham dự Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, nơi đây ngài ngỏ lời với 192 quốc gia thành viên của Đại Hội Đồng, và đọc diễn văn về Quyền con người. Dưới góc độ đức tin, sự kiện này được coi là sự thể hiện mệnh lệnh hòan vũ của Đức Giêsu Kitô, Đấng sáng lập Giáo Hội, đã ra lệnh cho các tông đồ cách đây hai ngàn năm: “Hãy đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân”. 
        Ngôn sứ Isaia đã nói đến tính hoàn vũ này sáu trăm năm trước công nguyên: “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh, cũng trở nên tôi tớ của Người …  đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta” (x. Bài Đọc 1. Is 56, 1.6-7).  Ngôn sứ như vượt biên giới Do thái quay sang tiếp đón dân ngọai. Ông đã gióng lên lời mời gọi gặp gỡ mang tính hoàn vũ. Mọi dân tộc sẽ được dẫn lên núi Thánh Chúa và bước đi trong đường lối của Người.  Con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, nơi mỗi người đều có tiếng gọi thúc giục tìm đến cuộc gặp gỡ này, gặp gỡ giữa con người và Đấng Sáng Tạo. Thánh Âu-tinh đã có thời sống sa đọa, nhưng lòng vẫn hướng về Thiên Chúa, ngài nói về kinh nghiệm việc tìm kiếm Thiên Chúa như sau: “Con không tìm gặp Ngài nếu con đã không biết Ngài”. Nghĩa là nơi con người có khuynh hướng tôn giáo, có sự hiểu biết về Thiên Chúa một cách mơ hồ nào đó rồi, chẳng vậy mà dân thành Ninivê, tuy là dân ngọai, đã  lắng nghe lời kêu gọi của tiên tri Gio-na mà ăn năn sám hối khi nghe lời tiên tri rao giảng.
        Tin Mừng Mátthêu cho thấy tính hòan vũ của ơn cứu độ, qua cuộc gặp gỡ kỳ lạ của người phụ nữ Ca-na-an với Đức Giêsu, người đàn bà nầy là đại biểu cho dân ngọai khao khát tìm kiếm Thiên Chúa. Khi Đức Giêsu đi ngang qua Thành Tia và Xiđôn là đất dân ngọai, có người phụ nữ ngoại giáo cầu xin phép lạ chữa bệnh cho con gái, bà bị Đức Giêsu từ chối cách phủ phàng và có phần bị hạ nhục, bị coi là hạng chó con không xứng đáng ăn bánh của con cái. Thay vì tự ái bỏ đi, bà dùng ngay lời miệt thị đó để khẳng định lòng tin kiên vững của mình, một đức tin làm Đức Giêsu kinh ngạc và thán phục. Đức Giêsu đầu hàng trước lòng tin của bà. 
        Trình thuật bắt đầu không mấy thuận lợi, nhưng kết thúc có hậu. Người phụ nữ lên tiến cầu xin: “Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!” Phản ứng đầu tiên của Đức Giêsu là thinh lặng không đếm xỉa gì đến lời van xin. Khi môn đệ nài ép Người làm phép lạ, Đức Giêsu lạnh lùng trả lời: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con”. Phản ứng ban đầu của Đức Giêsu như dựng lên bức tường để ức chế làm bùng lên lòng tin mạnh mẽ nơi người đàn bà ngoại giáo, bà ứng khẩu đáp lại: “Nhưng lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Phản ứng của bà như mở rộng cửa biên giới đi từ kỳ thị lương dân bước sang thân cận với Đức Giêsu, chịu thua trước đức tin son sắt của bà, Người liền tuyên bố: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật!  Bà muốn thế nào, sẽ được như vậy” (x. Bài Tin Mừng. 15, 21-28).
        Đức tin phá đổ hàng rào ngăn cách giữa người tin và kẻ không tin. Tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu là tuyên xưng lòng tin vào ơn cứu độ Người đem đến. Ơn cứu độ dành cho mọi người. Đức tin là điều tối cần thiết để lãnh nhận ơn cứu độ, làm cho người lương dân trở nên con cái Thiên Chúa. Trong Đức Kitô thì không còn phân biệt Do thái hay Hy lạp, đàn ông hay đàn bà nhưng tất cả nên một không phân biệt, theo tư tưởng của thánh Phaolô.
        Lạy Chúa Giêsu, xin hãy thêm đức tin cho con để con có thể đứng vững khi gặp thử thách. Xin cho kiên vững kêu đến Chúa cả khi xem ra Chúa lạnh lùng chậm đáp trả. Amen
Lm. Luy Gonzaga NGUYỄN QUANG VINH
GX. ĐỨC AN – GP. KONTUM
GPKONTUM (19/08/2017) KONTUM


12/8/17

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 19 Năm A

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 19 Năm A

Mùa Thường Niên Chúa Nhật 19 Năm A
1V 19,9a.11-13a; Rm 9,1-5; Mt 14, 22-33. 
BẾ TẮC TRONG ĐỨC TIN
        Bài suy niệm:
        Thật quá nhiều chi tiết trong một bài Tin Mừng ngắn như hôm nay. Ngay sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu hấp tấp ra lệnh cho môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, còn Người giải tán dân chúng. Sau đó Người rút lên núi cầu nguyện một mình. Thuyền các môn đệ ra khơi gặp phải sóng gió, canh tư đêm đó Đức Giêsu đi trên nước đến với các môn đệ. Môn đệ hú vía la hoảng “Ma đó”. Người trấn an môn đệ bằng giọng đầy uy quyền: “Thầy đây đừng sợ!”. Lấy lại bình tĩnh, ông Phêrô xin Đức Giêsu cho ông đi trên nước đến với Người. Ông nhảy xuống biển bước đi mấy bước, thấy gió mạnh, ông đâm hoảng và bắt đầu chìm xuống, ông la lên: “Xin Ngài cứu con với”. Đức Giêsu cứu ông và trách ông hèn tin. Thầy trò lên thuyền, thì gió lặng. Môn đệ bái lạy và tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa (x. Bài Tin Mừng Mt 14, 22-33). 
        Nhiều bài học được rút ra qua những dấu chỉ và hành động của Đức Giêsu. Vì sợ bị ngộ nhận là nhà giải phóng kinh tế và sợ bị tôn làm vua trần thế, cho nên Đức Giêsu vội vàng giải tán dân chúng, không màng đến lời khen ngợi tán thưởng của đám đông vừa được ăn bánh do phép lạ Người làm.  Đức Giêsu đi cầu nguyện vì đó là “hơi thở” cần thiết cho sự sống của Người, hiệp thông để biết thánh ý của Cha. Thuyền ra khơi chở theo Phêrô và các tông đồ khác, gặp phong ba bão táp và gió ngược, mọi người đều cố chèo để thuyền được bình an, hình ảnh con thuyền vượt sóng được hiểu về Giáo Hội lao đao vượt biển trần gian.
        Giáo Hội của Đức Giêsu luôn gặp những gian nan khốn khó, tuy nhiên Đức Giêsu vẫn luôn hiện diện ngay bên để nâng đỡ và che chở Giáo Hội, Người quan tâm theo dõi Giáo Hội và cứu nguy Giáo Hội khi gặp bế tắc. Việc Đức Giêsu đi trên biển đến với các môn đệ trong phong ba, minh chứng quyền năng của Người trên thiên nhiên vạn vật, đấng tạo dựng nên vũ trụ thì làm chủ vũ trụ. Đạp trên nước, đi trên ba đào, là những việc làm ngoại thường, minh chứng Người làm chủ cả cá biển chim trời. Theo nhãn quan Kinh thánh đại dương tượng trưng cho vương quốc của thủy thần hà bá đầy hiểm nguy rình rập, bước đi trên biển là tỏ rõ uy quyền trên vương quốc sự chết.
        Khủng hoảng và bế tắc trong đời sống là điều không thể tránh khỏi trong cuộc sống hằng ngày, ngay như Phêrô có lúc bùng lên tin tưởng táo bạo, mạnh dạn nhảy xuống biển đi tới với Đức Giêsu, nhưng rồi trong chốc lát chìm lĩm vì sợ hãi khi đối diện với nghịch cảnh. Cũng may ông đã kịp thời cầu cứu Đức Giêsu và tức khắc ông đã được cứu vớt. Cũng thế tiên tri Êlia sau khi tỏ ra hăng say nhiệt thành tuyệt đối bảo vệ niềm tin độc thần giáo, ông đã giết chết 450 tư tế của thần Ba-an, sau vụ thắng lớn trong cuộc thách đấu trên núi Cát Minh, ông bị hoàng hậu Idơven trù dập, đe dọa tước mất mạng sống, ông lâm vào cảnh bế tắc, ông chạy thoát thân tìm ẩn náu nơi Thiên Chúa tại núi Khôrếp (x, Bài Đọc 2. 1V 19, 9a.11-13a). Cái thần sắc oai hùng của Êlia trên núi Cát minh như biến tan đâu mất, còn lại một con người bạc nhược nằm sát mặt đất, yếu đuối rã rời đầy thất vọng, muốn xin Thiên Chúa cất mạng sống mình đi. Thân phận mỏng giòn của con người là thế đó! Và từ bụi đất Êlia nhận được sức mạnh từ Thiên Chúa đủ sức hành trình 40 ngày đêm tiến tới núi Khô-rếp, gặp gỡ Thiên Chúa.
        Người Kitô hữu cũng như bao nhiêu người khác, gặp phải những bế tắc trong cuộc sống, lo sợ trước tương lai bấp bênh, cũng có khi la hoảng ngộ nhận Chúa là ma! Yên tâm đi, Đức Giêsu không đến để triệt tiêu khó khăn, sự dữ và cái chết, nhưng giúp con người vượt qua những bế tắc đó, Người hiện diện cách vô hình với người tín hữu trong mọi hoàn cảnh bế tắc. Điều quan trọng là trong thuyền Giáo Hội cũng như trong thuyền-đời của người Kitô hữu, phải làm sao cho có được sự hiện diện của Đức Giêsu, vì một khi có sự hiện diện của Người thì cho dù thuyền có ra khơi hay gặp phong ba, thuyền vẫn được bình an, vì Người là chúa sự bình an. “Cứ yên tâm, chính Thầy đây đừng sợ!”, “Khi Thầy trò đã lên thuyền thì gió lặng” (c. 32).
         Lạy Chúa Giêsu, xin cho con biết chạy đến với Chúa trong cơn gian nan khốn khó như Phêrô, như Êlia và phó thác nơi Chúa mọi lo lắng, vất vả và bế tắc cuộc sống. Amen
Lm. Luy Gonzaga NGUYỄN QUANG VINH
GX. ĐỨC AN – GP. KONTUM
GPKONTUM (12/08/2017) KONTUM
Advertisements